Hiển thị các bài đăng có nhãn KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KHÁC. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

WTC - Từ tháp đôi cao nhất thế giới tới Ground Zero

Trước khi hoàn toàn sụp đổ vì vụ tấn công 11/9, Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) đã trải qua những năm tháng vàng son, để rồi từ tòa tháp đôi từng cao nhất thế giới nay trở thành khu tưởng niệm Ground Zero.

Đầu những năm 60 thế kỷ trước, kiến trúc sư người Mỹ gốc Nhật Minoru Yamasaki bắt đầu thiết kế một tòa tháp đôi với những ô cửa sổ mang ảnh hưởng sâu sắc của kiến trúc Gothic. Dù vẽ ra tòa tháp đôi cao hơn 100 tầng nhưng ông Yamasaki (ảnh nhỏ) lại là người sợ độ cao. Trong hình là khu Radio Row ở Manhattan, New York. Đây là khu được giải tỏa vào năm 1966 để lấy chỗ cho tòa tháp đôi WTC và các công trình vệ tinh khác. Ảnh: Life
Bản vẽ
Bản vẽ mô tả khái quát thiết kế mặt cắt của hai tòa tháp cao nhất trong tổ hợp WTC, và bố trí không gian từng tầng của hai tòa nhà này. Đồ họa: Wikipedia
Quá trình xây dựng tổ hợp WTC bắt đầu năm 1968, với công trình đầu tiên là Tháp Bắc (hay 1 WTC). Các công trình còn lại lần lượt được khởi công trong 15 năm tiếp theo. Đơn vị trực tiếp thi công tổ hợp WTC là Leslie Earl Robertson, với tư cách nhà thầu chính. Ngoài ra, còn có một số nhà thầu phụ khác. Ảnh: Physics911
Hai tòa tháp chính của tổ hợp WTC dần thành hình. Tháp Bắc khởi công trước nên có tốc độ chồng tầng nhanh hơn Tháp Nam khá nhiều. Ảnh: Greatbuildings
Ý tưởng về việc xây dựng Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York đã xuất hiện từ năm 1946, nhưng vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do chính trị, việc thiết kế bị lùi lại tới những năm 60 thế kỷ trước. Chi phí xây dựng hai tháp chính với 110 tầng mỗi tháp lên tới 400 triệu USD. Ảnh: Life
Tháp Bắc (cao 417 m) và Tháp Nam (cao 415 m) được khởi công cách nhau 1 năm, rồi lần lượt được hoàn thiện vào các năm 1970 và 1971. Ngay sau đó, tòa tháp đôi này trở thành tòa kiến trúc cao nhất trên thế giới trong giai đoạn 1971 tới 1973, trước khi bị tháp Willis ở Chicago vượt qua. Ảnh: Life
Toàn bộ tổ hợp WTC sau khi hoàn thiện
Toàn bộ tổ hợp WTC sau khi hoàn thiện, với hai tháp chính (1 WTC và 2 WTC) cao nhất ở trung tâm cùng các tháp phụ 3 WTC, 4 WTC, 5 WTC, 6 WTC và 7 WTC ở xung quanh. Ảnh: Wikipedia
Sau hơn 3 thập kỷ
Sau hơn 3 thập kỷ sừng sững tọa lạc tại khu vực sầm uất bậc nhất của thành phố New York, hai tòa tháp chính của WTC trở thành một mục tiêu nằm trong kế hoạch tấn công khủng bố 11/9. Hình vẽ trên mô tả lại quá trình hai máy bay chở khách lần lượt lao vào hai tòa tháp và các kiến trúc xung quanh WTC khi vụ tấn công xảy ra. Đồ họa: Swampstyle
Biểu tượng sức mạnh kinh tế Mỹ sau đó sụp đổ hoàn toàn với tốc độ nhanh bất ngờ. Trong chưa đầy 3 giờ đồng hồ, hai tòa tháp cao hơn 400 m chỉ còn là một đống đổ nát trong khói bụi. Ảnh: RT
Khu tưởng niệm WTC, với trung tâm là khu Ground Zero với hai hồ nước phản chiếu, vốn là vị trí của hai tòa tháp WTC ngày nào. Ảnh: AP
Hai cột sáng song song được chiếu lên từ vị trí của hai tòa tháp WTC, trong lễ tưởng niệm vào ngày 11/9/2006
(theo vnexpress.net)

Đọc thêm ...

Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Thăm khu vườn tiền tỷ của Sỹ Hoàng

Có diện tích 20.000 m2, khu vườn được bao bọc bởi mảng rau xanh, hồ cá, nhiều gian nhà cổ... Đây là chốn riêng bình yên để nhà thiết kế thời trang nổi tiếng lui về, lánh cuộc sống đô thị bộn bề.



Ngay từ cổng khu nhà vườn Long Thuận ở quận 9, TP HCM của Sỹ Hoàng là những giàn bầu bí sai trái, che bóng mát cho du khách.

Toàn bộ kiến trúc trong khu nhà vườn đều làm từ gỗ quý hoặc gỗ chất lượng cao với kiểu dáng và chạm khắc tinh xảo, đậm chất Việt.
Hồ Chân Lạc nằm ở trung tâm khu vườn, rộng khoảng 5.000m2, có hướng nhìn ra nhà thờ tổ tiên của gia đình thiết kế Sỹ Hoàng. Trên hồ này có một sân khấu nằm chìm dưới nước. Khi có những buổi biểu diễn, mực nước được hạ bớt để sân khấu lộ ra ngoài. Nghệ sĩ múa Linh Nga, nghệ sĩ cải lương Vũ Luân... từng có những tiết mục biểu diễn nghệ thuật tại đây.
Khu nhà dài nằm lọt giữa vườn dừa xanh mát là nơi Sỹ Hoàng tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm trong giới sân khấu, thời trang. Anh cho biết, sắp tới khu nhà dài dự kiến được dùng làm lớp học mỹ thuật cho thiếu nhi.
Thấp thoáng giữa những hàng cau thẳng tắp là bộ sưu tập bánh xe bò của Sỹ Hoàng.
Một khoảnh ruộng tự trồng của nhà Sỹ Hoàng. Anh cho biết, mỗi vụ khoảnh đất này cho được chừng 80-100 kg thóc dùng ăn trong gia đình. Nhưng điều quan trọng là khoảnh ruộng tạo được không khí đồng quê Việt Nam, với mạ non, gốc rạ và mùi lúa thơm mỗi khi trổ đòng lan theo gió.

Tháp nước khá cao được xây dựng để chứa hàng nghìn lít nước nóng lạnh, cung cấp nước sạch phục vụ cho mục đích sinh hoạt, tưới tiêu của toàn bộ khu nhà vườn.

Một góc vườn bình yên của Sỹ Hoàng.
Bất kỳ chỗ nào trong khu nhà vườn, người đến thăm cũng có thể tìm được một góc ngồi xuống để lắng nghe tiếng chim kêu, cây lá xào xạc trong gió.

Khu nhà vườn Sỹ Hoàng nhìn từ trên cao.
Nhà thiết kế cho biết, trong 8 năm qua, anh đã dốc bao công sức cùng chi phí đầu tư là hơn 40 tỷ đồng cho khu vườn nhà mình, vẫn còn nhiều hạng mục đang dang dở và anh hy vọng trong những năm sắp tới sẽ hoàn tất.
(Theo Vnexpress)

Đọc thêm ...

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2010

AND HERE, THEY ARE BRAND NEW ARCHITECTS!!!! (PART1)


VALEDICTORIAN ( THỦ KHOA CỦA CHÚNG TÔI!)






















XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN QUÍ THẦY CÔ HƯỚNG DẪN

QUÍ HỘI ĐỒNG GIÁM KHẢO
VÀ TẤT CẢ BẠN BÈ,
GIA ĐÌNH!!!
CAM ON BAN DD DA TAI TRO NHUNG TAM HINH RAT ĐẸP!!!^^

Đọc thêm ...

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2010

Zaha Hadid opening MAXXI Rome Euromaxx




Đọc thêm ...

Thứ Tư, 5 tháng 5, 2010

Di sản kiến trúc Pháp tại Hà Nội





Đọc thêm ...

Chủ Nhật, 25 tháng 4, 2010

Thứ Hai, 15 tháng 3, 2010

Dùng thước trong xây dựng thế nào

Trong xây dựng nhà cửa hay đơn giản là sắp xếp đồ trong một căn phòng sao cho hợp lý và đúng kích thước các đồ vật bạn sẽ không thể không dùng đến thước đo. Vậy phải dùng thước như thế nào cho đúng và phát huy hết hiệu quả sử dụng của nó?

Nhiều bạn rất băn khoăn về thước Lỗ Ban (loại thước hay dùng trong làm nhà, dựng cửa) rằng: Thước Lỗ Ban là gì, cấu tạo và cách sử dụng ra sao, các loại thước trên thị trường hiện nay có phải là thước Lỗ Ban hay không? Để giải đáp phần nào thắc mắc của bạn đọc, chúng tôi xin đề cập đến vấn đề sử dụng kích thước trong phong thuỷ truyền thống và hiện đại cũng như cách ứng dụng thước đo trong làm nhà theo phong thuỷ như thế nào.

Thước lỗ ban tiếng Việt hiện phổ biến  hiện nay. Hàng trên cùng là đơn vị Inch, dưới cùng là đơn vị mét. Các  khoảng trên là ghi theo thước trực 8 dài 42,8cm, các khoảng dưới ghi  theo thước trực dài 38,8cm.

Thước lỗ ban tiếng Việt hiện phổ biến hiện nay. Hàng trên cùng là đơn vị Inch, dưới cùng là đơn vị mét. Các khoảng trên là ghi theo thước trực 8 dài 42,8cm, các khoảng dưới ghi theo thước trực dài 38,8cm.

Sự ảnh hưởng văn minh phương tây đã làm “biến mất” nhiều hệ thước đo truyền thống của đa số các nước, trong đó có Việt Nam. Mọi kích thước về kỹ thuật, mỹ thuật hiện nay đều dùng hệ đo mét (nguồn gốc: Pháp), và có một vài sản phẩm dùng hệ đo inch (nguồn gốc: Anh, 1 inch = 2,54 cm). Hệ thống thước đo được sử dụng trong thời Nguyễn (1802 – 1945), thời kỳ chế độ quân chủ cuối cùng tại Việt Nam, cũng là hệ thước đo còn lưu truyền phần nào hiện nay. Để đo đất – làm nhà – dựng cửa, thời Nguyễn phổ biến hệ thước đo ruộng đất (điền xích) và hệ thước mộc (mộc xích). Loại thước lỗ ban mà hiện nay ta biết là thuộc hệ thước mộc, vốn được dùng chủ yếu trong các công trình kiến trúc truyền thống.

Hiện nay tồn tại hai nhóm thước chính, đó là thước kỹ thuật và thước tín ngưỡng (hay còn gọi là thước lỗ ban). Theo các nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Hải công bố trên tạp chí Kiến Trúc số 3/2003 (hội Kiến trúc sư Việt Nam) thì thước lỗ ban khá phức tạp bởi có rất nhiều loại với quan niệm và cách sử dụng khác nhau. Lỗ Ban là tên một người thợ mộc Trung Hoa cổ đại, tương truyền đã phát minh ra cưa, đục và các dụng cụ nghề mộc trong đó có cây thước đo (còn có tên gọi môn xích, dùng để đo cửa). Thước dài 46cm, bề mặt chia làm 8 trực, giữa các trực khắc các chữ tài – đại – tinh, bệnh – thổ – tinh, ly – thuỷ – tinh, nghĩa – thuỷ – tinh, quan – kim – tinh, chấp – hoả – tinh, hại – hoả – tinh, cát – kim – tinh, đồng thời kèm theo các câu về điều tốt xấu (cát, hung). Trong thời cổ, ở Trung Quốc và các nước ảnh hưởng văn hoá Hán đều sử dụng thước lỗ ban với nhiều biến dạng. Hiện nay có hai loại thước lỗ ban chính, sử dụng ở cả Việt Nam lẫn Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, đó là thước trực 8 (bát môn xích) và thước trực 10 (thập môn xích) với giá trị khác nhau. Và cả hai loại thước này hiện đều cùng in trên cây thước sắt cuốn bán phổ biến trên thị trường, có thước in chữ Hoa, có thước đã được dịch in luôn chữ Việt (phiên âm) cho dễ đọc! Cụ thể nội dung hai loại thước này như sau:

Nguyên tắc  lọt lòng khi đo chiều rộng và chiều cao của cửa.

Nguyên tắc lọt lòng khi đo chiều rộng và chiều cao của cửa.

1. Loại thước trực 8 dài 42,8cm (sau đó là lặp lại), 8 trực là: tài – bệnh – ly – nghĩa – quan – chấp (hoặc nạn) – hại – bản (hoặc mạng); mỗi trực lại chia thành bốn phần chia làm hai khoảng (tên trực nằm giữa), mỗi khoảng ghi các chữ, ví dụ như trong khoảng quan có ghi: thuận lợi, hoành tài, tấn ích, phú quý.

2. Loại thước trực 10 dài 38,8cm; 10 trực là: đinh – hại – vượng – khổ – nghĩa – quan – tử – hưng – thất – tài. Mỗi trực cũng lại chia thành các khoảng ghi các chữ, ví dụ như khoảng đinh ghi: phúc tinh, cập đệ – tài vượng, đăng khoa.

Các trực tốt như tài, nghĩa, quan… được in màu đỏ, xấu như bệnh, tử, hại… thì in màu đen, cho nên nhiều người sử dụng thước theo cách dễ hiểu: thấy kéo thước vô cung đỏ là tốt! Thực tế vẫn còn nhiều biến thể của “thước lỗ ban”, có cái dài 43,9cm, có cái dài đến 56cm (thước Chu Nguyên xích tại bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế). Do vậy có thể tạm kết luận: các loại thước này mang tính tín ngưỡng dân gian là chính, được lưu truyền sử dụng theo kiểu “có thờ có thiêng – có kiêng có lành”. Vấn đề là gia chủ và nhà chuyên môn cần xác định rõ việc đo đạc trong xây dựng một cách khoa học, đảm bảo kỹ thuật – mỹ thuật và có sự gia giảm linh hoạt, không để cho những áp đặt vu vơ làm sai lệch chất lượng của công trình.

Sử dụng thước thế nào?

Nhiều gia chủ hiện nay hay mua cây thước kéo có in các vạch đen đỏ, gặp bất kỳ chỗ nào trong ngôi nhà cũng… kiểm tra, rồi đòi hỏi mọi thứ phải vào được cung tốt (màu đỏ), gây khó khăn cho nhà chuyên môn, ảnh hưởng đến kỹ thuật và mỹ thuật công trình. Vấn dề nằm ở chỗ cần áp dụng kích thước lỗ ban cho những khu vực, chi tiết nào trong nhà để đạt sự hợp lý và đảm bảo nguyên tắc phong thuỷ, không sa đà vào tiểu tiết mê tín.

Vị trí áp dụng

Có ba nguyên tắc làm cơ sở cho việc áp dụng kích thước phong thuỷ trong xây cất. Đó là quan điểm dương trạch khí, các cấp độ môn – táo – chủ, và nguyên tắc hình phễu.

a. Dương trạch khí: đảm bảo nạp khí và thoát khí, thông qua hệ thống cửa, tương quan cửa với toàn nhà. Như Lão Tử thuở trước từng nói: vo đất làm bình cốt để dùng phần rỗng bên trong. Hay quan điểm kiến trúc hiện đại: khoảng không giữa các bức tường quan trọng hơn là bản thân các bức tường! Tức là, con người sống trong môi trường thiên nhiên và nhân tạo, tìm kiếm kích thước hài hoà hợp lý phải căn cứ vào khoảng trống, ở phần rỗng chứ không phải là các phần đặc!

b. Môn – táo – chủ: ba cấp độ này cũng ưu tiên đi từ môn (kích thước hệ thống cửa) đến táo (kích thước bếp) và sau cùng là chủ (các kích thước liên quan đến chủ nhân) trong đó chủ yếu là môn (thước lỗ ban vốn được gọi là môn xích). Còn táo và chủ chỉ cần tương quan tỷ lệ và phù hợp nhân trắc là đủ. Ví dụ kích thước bệ bếp phải vừa tầm người sử dụng, dù có “kéo vào cung đỏ” mà cao quá hay thấp quá cũng đều hỏng.

c. Nguyên tắc hình phễu: để tàng phong tụ khí thì luôn cần hệ kích thước cửa đảm bảo nguyên tắc từ ngoài vào trong theo hình phễu thu dần vào. Cửa cổng phải rộng và cao hơn cửa chính, cửa chính cao rộng hơn cửa phòng, cửa phòng ngủ hơn cửa phòng vệ sinh. Nguyên tắc này đảm bảo cửa nơi đối ngoại đông người nên rộng hơn cửa phòng vốn chỉ dùng đối nội.

Riêng với hệ cửa sổ (song khẩu) thì tránh khấp khểnh thiên lệch so với cửa chính để đảm bảo tính cân bằng. Cửa đi dẫn truyền khí, thiên về vật chất, cửa sổ điều tiết khí và cảnh quan (trong nhìn ra – ngoài nhìn vào) thiên về tinh thần. Khi cửa đi đóng (ví dụ vào ban đêm) thì cửa sổ chính là nguồn điều tiết thông thoáng và tầm nhìn, do đó kích thước cửa sổ không bắt buộc phải theo thước lỗ ban mà quan trọng là tương quan cửa sổ đối với nhà hay phòng.

Đo thông thuỷ hay phủ bì?

Vì kích thước phong thuỷ áp dụng cho nội khí, tức là phải đo các khoảng lọt lòng thông thuỷ cho khí đi qua, tức là đo khoảng trống (phần tĩnh ổn định) chứ không phải đo cánh cửa (phần mở mang tính động). Cụ thể là đo phần lọt lòng nhỏ nhất của khuôn bao, nhiều thợ hay gọi là lọt lòng gió. Về chiều cao, cần tính và đo khoảng lọt lòng từ sàn hoàn thiện đến phần thấp nhất của khuôn bao bên trên.

Những khung cửa không có cánh cũng đo phần lọt lòng nhỏ nhất và cố định như đã nêu trên. Đối với loại cửa vòm, chiều cao đo tính đến phần đỉnh vòm. Đối với cửa có phần lật hoặc cố định bên trên, kích thước phong thuỷ chỉ tính với phần khung có cánh mở được bên dưới. Cách tính này đảm bảo các bộ cửa đi theo ý đồ thẩm mỹ và tương quan với ngôi nhà, miễn phần mở để đi lại theo kích thước phong thuỷ, những phần chung quanh chỉ đóng vai trò như cửa sổ, lấy sáng và thông thoáng.

ThS.KTS Hà Anh Tuấn
(Theo SGTT)

Đọc thêm ...

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2010

Một phim 3D xuất sắc!

The Third & The Seventh from Alex Roman on Vimeo.

Đọc thêm ...

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2010


NĂM MỚI TẾT ĐẾN CHÚC TCKT05 TRÀN NGẬP NIỀM VUI, HẠNH PHÚC BÊN GIA ĐÌNH, GẶP NHIỀU MAY MẮN VÀ THÀNH CÔNG TRONG TÂN NIÊN!!! CHÚC MỪNG NĂM MỚI!!

Đọc thêm ...

Thứ Năm, 31 tháng 12, 2009

HAPPY NEW YEAR!! HAPPY 2010!!

Đọc thêm ...

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2009

Đổi mới đào tạo kiến trúc sư, một yêu cầu cấp thiết


Thời gian qua, công tác đào tạo KTS tại Việt Nam nhìn chung đã có những bước phát triển mạnh về quy mô đào tạo.

Với đặc thù là đào tạo những người làm nghề sáng tạo nên phải thường xuyên cập nhật những thông tin mới. Hiện tại, công tác này đang còn nhiều tồn tại trong suốt thời gian dài, chuyển biến còn chậm chạp, chưa theo kịp nhu cầu xã hội.

Việc đổi mới công tác đào tạo KTS là cần thiết nhưng dường như chưa trở thành một quyết tâm lớn ở các cơ sở đào tạo. Trong khi đó, yêu cầu thực tiễn lại đang đòi hỏi một sự đổi mới lớn mang tính tổng thể, tránh tình trạng đào tạo theo kiểu dập khuôn, lối mòn, không thực tiễn đang tạo nên khoảng cách ngày một xa hơn so với thế giới.


Ngày 12/10/2009, tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Đình Toàn đã có buổi làm việc với lãnh đạo nhà trường, các đơn vị của trường và lãnh đạo các đơn vị của trường về công tác quản lý và đào tạo.


Tham dự cuộc họp có lãnh đạo Cục Phát triển đô thị, Vụ Tổ chức Cán bộ, Kiến trúc Quy hoạch, Khoa học Công nghệ, Kế hoạch Tài chính, Hợp tác Quốc tế, Văn phòng Bộ Xây dựng. TCKTVN đã lược ghi một số ý kiến của Thứ trưởng phát biểu tại cuộc họp:


Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội là trường có bề dày truyền thống đào tạo nhân lực cho ngành Xây dựng và đất nước, là một trong những địa chỉ uy tín của ngành giáo dục cũng như cơ sở đào tạo của Bộ Xây dựng.


Trong điều kiện phát triển mới của đất nước, tác động trực tiếp tới yêu cầu về chất lượng nhân lực được đào tạo. Trường ĐH KTHN đã phát huy vai trò đầu tàu của các trường đào tạo về các lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, quản lý đô thị...


Thứ trưởng Nguyễn Đình Toàn đã chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể của trường trong thời gian tới; Trong đó, nhấn mạnh về công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học với một số nội dung chính như:


1. Đối với công tác đào tạo


Ban giám hiệu nhà trường cần đẩy mạnh phát triển công tác đào tạo và để đáp ứng nhu cầu xã hội. Có hai mảng đào tạo chủ yếu của trường là: đào tạo kiến trúc sư, kỹ sư và đào tạo sau đại học. Nhà trường cần có cơ chế linh hoạt tìm ra những nhân tố tích cực trong đội ngũ giảng viên trẻ để bồi dưỡng làm nòng cốt phục vụ chiến lược phát triển của trường. Bên cạnh đó, cần phải mời giảng viên thỉnh giảng ở các Viện, cơ quan bên ngoài có kinh nghiệm tham gia giảng dạy.


Từng khoa, từng bộ môn phải tự đánh giá lại chương trình giảng dạy thông qua các buổi sinh hoạt học thuật mở rộng (giữa các giảng viên, giữa các bộ môn, giữa các khoa). Ban giám hiệu và các khoa cần chủ động xây dựng hệ thống giáo trình chuẩn bám sát thực tế phát triển hiện nay (giáo trình đang dạy qua nhiều năm đã cũ cần cập nhật kiến thức mới), các môn học chuyên ngành phải đáp ứng nhu cầu của từng khoa, coi đây là trọng tâm trong công tác đào tạo, từ đó đề xuất được các vấn đề cần thay đổi của chương trình dạy.


Có những môn phục vụ ít cho chuyên môn cần phải loại bỏ cũng như cần tăng cường môn mới, chuyên sâu hơn những môn học thực sự cần thiết. Sự gắn kết giữa các môn chuyên ngành như: Thiết kế, vật liệu, cơ kết cấu... cần có giáo trình riêng, phục vụ cho sinh viên kiến trúc. Chủ nhiệm bộ môn và giảng viên môn này cần có sự hợp tác, làm việc với các bộ môn khoa kiến trúc để xác định những nội dung trọng tâm phục vụ tốt cho công tác đào tạo KTS.


Thực hiện hợp tác trong nước, quốc tế phải học tập được kinh nghiệm giảng dạy xây dựng giáo trình của các trường đại học mà trường đang hợp tác. Các giảng viên được cử đi học nước ngoài, sau khi trở về phải có báo cáo về tài liệu và kiến thức của khóa học đóng góp cho bộ môn, khoa và nhà trường.


2. Đối với công tác nghiên cứu khoa học


Hiện nay, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ nhà trường đã có các đơn vị thực hiện chức năng như: Viện Kiến trúc nhiệt đới, Trung tâm nâng cao năng lực và nghiên cứu đô thị,... cần khai thác được hết tiềm năng cán bộ giảng dạy của trường; cần có sự đầu tư thích đáng cho các cơ sở NCKH này của trường. Ban giám hiệu nhà trường thực hiện các chương trình khuyến khích các giảng viên trẻ và sinh viên tham gia vào nghiên cứu khoa học hướng đến phục vụ công tác giảng dạy và các nhu cầu thực tế xã hội đang đặt ra.


3. Đối với công tác quản lý


Nhà trường cần xem xét sửa đổi lại quy chế cũ, nâng cao năng lực quản lý. Biên soạn quy chế mới về quản lý nhân sự, chi tiêu nội bộ, quản lý tài sản, dịch vụ và đời sống giảng viên và cán bộ công chức... Thực hiện nghiêm túc việc quản lý giờ lên lớp của giảng viên, sinh viên; có cơ chế kích thích những nhân tố tích cực: giáo viên dạy giỏi, cán bộ quản lý giỏi, sinh viên giỏi.


Đề nghị Ban giám hiệu nhà trường nghiên cứu cơ chế chủ động cho các Khoa, phòng ban chức năng trong công tác tài chính thông qua các hình thức khoán để tự chủ. Thực hiện xây dựng quy chế hoạt động về tài chính sau khi được góp ý của từng đơn vị trong trường.


Tăng cường công tác kiểm tra việc đóng góp của các đơn vị tư vấn, dịch vụ, chuyển giao công nghệ trực thuộc nhằm phục vụ cho việc hỗ trợ nguồn kinh phí cho các hoạt động giảng dạy và NCKH của trường (Tham khảo tại các đơn vị có mô hình tương tự).


Thứ trưởng Nguyễn Đình Toàn cũng đã đề nghị trường Đại học Kiến trúc Hà Nội thành lập tổ công tác lập đề án đổi mới công tác đào tạo và giảng dạy, lấy ý kiến, hoàn thiện để báo cáo Hội đồng Khoa học và lãnh đạo Bộ Xây dựng trong thời gian sớm nhất.


Thứ trưởng BXD - TS.KTS Nguyễn Đình Toàn

Theo tạp chí Kiến trúc Việt Nam số 11/2009


Đọc thêm ...

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2009

Temppeliaukio Church by Timo & Tuomo Suomalainen

Temppeliaukio Church by Timo & Tuomo Suomalainen


Temppeliaukio Church by Timo & Tuomo Suomalainen

——————————-
Project Details:
Building Temppeliaukio Church
Architects Timo & Tuomo Suomalainen
Program Religious Building
Acoustics Paavo Berglund and Mauri Parjo
Completed 1969
Location Lutherinkatu 3, Töölö neighbourhood, Helsinki, Finland



Đọc thêm ...

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2009

Đồ án sinh viên kiến trúc: tính ứng dụng và căn bệnh hình thức

Có thể khẳng định rằng sinh viên ngày nay nói chung, sinh viên kiến trúc nói riêng ngày càng bộc lộ được sự năng động, thông minh và sáng tạo.

Trong các cuộc thi về kiến trúc, đối tượng đoạt giải là sinh viên hoặc những KTS trẻ chiếm tỷ lệ ngày càng lớn. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần phải nhìn nhận một vấn đề rất đáng lo ngại, đó là tính ứng dụng trong các đồ án thiết kế của các bạn trẻ này. Liệu có ai đó giật mình nghĩ rằng mình như đang mộng du đi trên các tòa nhà cao tầng?

Tính ứng dụng đạt tới đâu?

Theo PGS. TS Phạm Hùng Cường, giảng viên trường ĐH Xây dựng Hà Nội thì có tới 50 - 60 % đồ án của sinh viên bị sai về nguyên lý kiến trúc và lỗi kỹ thuật do chưa nắm được nguyên lý giải quyết vấn đề. Đây là một thực tế cần khắc phục bởi chúng ta không thể đào tạo một đội ngũ kiến trúc sẽ tạo nên diện mạo nước nhà mà khi ra trường chưa nắm vững những logic thiết kế. Sinh viên hiện nay chủ yếu nặng về tính thẩm mỹ, tính hình thức và còn “bay bổng” quá nhiều dẫn đến những điều thiếu thực tế. Khi thực hiện đồ án, sinh viên thường trong tình thế rất bị động, chưa biết phát hiện vấn đề. Trong những giờ hướng dẫn đồ án thì sinh viên thường vắng mặt rất nhiều và không coi trọng nhiều. Sinh viên thường dành nhiều thời gian để vẽ hơn là để tư duy.

Trong một đồ án của sinh viên, chúng ta cũng không thể đòi hỏi quá cao ở họ về yếu tố kỹ thuật nhưng sinh viên cần khả năng giải quyết vấn theo tư duy lôgic. Sinh viên trước tiên phải biết mình cần gì, sau đó mới đi tìm hướng giải quyết, và hướng giải quyết đạt hiệu quả tới đâu thì phụ thuộc vào kinh nghiệm của mỗi người. Đôi khi, sinh viên hay nhầm lẫn giữa bản thân và đối tượng thiết kế. Không phải mình cứ muốn gì là áp đặt lên mà cần phải quan tâm xem đối tượng mình thiết kế là cái gì? Phục vụ cho ai? KTS không được muốn thế này, muốn thế kia mà phải là từ đề tài, đối tượng sử dụng, xã hội muốn gì? Đây chỉ là một yếu tố nhỏ nhưng không phải ai cũng hiểu rõ.

Có những sinh viên khi thiết kế một khu vui chơi lại nghĩ luôn đến việc sẽ cho những gì mình thích vào đó như con Rồng uốn lượn chẳng hạn mà quên mất là nghĩ đến đối tượng sử dụng. Khi hỏi một sinh viên làm đồ án thiết kế rạp hát rằng tại sao bạn lại làm mái vòm thế này, sao ghế ngồi lại bố trí thế này?... Sinh viên đó đã không lý giải được những nguyên lý lôgic về kỹ thuật cần có để tạo nên phương án mà chỉ đơn thuần là thấy nó đẹp, hoành tráng. Đây là lỗi thường thấy ở các sinh viên hiện nay khi thực hiện đồ án.

Những lí giải từ thực tiễn

Tuần “chạy lụt” của sinh viên kiến trúc. Có chứng kiến cảnh sinh viên kiến trúc vào thời gian thi và nộp đồ án mới có thể thấy hết được cái cách học, cách làm đồ án của họ. Được gọi là tuần “chạy lụt” vì thông thường họ chỉ làm đồ án trong khoảng một tuần lễ và đó thực sự là tuần “quên ăn, quên ngủ”. Thời gian để suy nghĩ, tư duy không có mà một tuần đó chủ yếu dành cho việc vẽ phối cảnh. Bạn làm xong sớm sẽ giúp những bạn khác chưa xong vẽ một phần đồ án mà rõ ràng đó không phải là cái mình đã tìm hiểu. Như vậy, thời gian đâu để dành cho đọc sách, nghiên cứu tài liệu. Làm xong kịp thời gian nộp đã là tốt rồi. Chưa hết, cá biệt có những sinh viên còn mua đồ án có sẵn từ các dịch vụ vẽ thuê. Các thầy cô hướng dẫn nếu không kiểm tra sát sao tiến độ thực hiện đồ án của sinh viên từ đầu sẽ khó mà phát hiện được những điều “thật - giả” này.

Bệnh ưa hình thức của người Việt. Người dân Việt Nam từ trước tới giờ rất quan tâm đến hình thức. Trong thiết kế kiến trúc cũng vậy, đó là yếu tố tiên quyết trong một công trình, một đồ án. Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ dẫn tới các đồ án của sinh viên kiến trúc hiện nay quá nặng về hình thức mà yếu về công năng, nguyên lý. Kiến trúc sư là phải biết vẽ, vẽ đẹp. “Khi vào trường thì thi vẽ, khi xin việc các bạn thi vẽ phối cảnh”. Các đồ án thiết kế kiến trúc, quy hoạch khi duyệt cũng vậy, phối cảnh được duyệt đầu tiên. Chính vì vậy nên KTS hiện nay rất cần vẽ đẹp. Sinh viên ngành kiến trúc của nước ngoài đôi khi vẽ kém hơn chúng ta rất nhiều, tuy nhiên họ lại nổi trội hơn hẳn ở cách đặt vấn đề, cách tiếp cận ở các yếu tố về công năng, kinh tế, kỹ thuật. Cũng cần phải nói rõ hơn: một công trình kiến trúc khác với một công trình xây dựng đơn thuần là phải có vẻ đẹp, vẻ đẹp đó chính là do bàn tay của các KTS vẽ nên. Đây chính là yếu tố khiến các sinh viên mất quá nhiều thời gian cho việc vẽ phối cảnh mà không còn đủ thời gian để tìm tòi, nghiên cứu đến các yếu tố khác.

Sinh viên kiến trúc cần gì?

Đầu tiên chúng ta cần nhận thức rõ về tính thực tiễn trong một công trình kiến trúc là gì. Có thể hiểu đơn giản là sinh viên có thể nắm được bài bản các quy trình hay các bước để thiết kế được một công trình. Khi bạn thiết kế một biệt thự, bạn phải có được hình dáng khu đất và vị trí địa lý của nó trong đầu. Từ khu đất mới nghĩ ý tưởng, có ý tưởng là phải phác họa ngay rồi mới đi sâu tìm hiểu các chi tiết kiến trúc. Các sinh viên cũng cần làm việc với kết cấu để tìm hiểu xem với một công trình như vậy, ý tưởng như vậy thì có gặp khó khăn gì trong kết cấu hay không, điện nước bố trí thế nào,... Việc ra công trường tìm hiểu thực tế là một yêu cầu cần thiết không thể thiếu khi thiết kế một đồ án. Nên gắn đồ án với một công trình đang xây dựng để rút ra kinh nghiệm. Nhưng đây lại là điều “xa xỉ” của sinh viên.

Dành thời gian nhất định để tìm hiểu, nghiên cứu các cuốn sách về kết cấu, lý luận lôgic trong thiết kế sáng tạo một công trình. Đây là những tiền đề, những nền móng đầu tiên để sinh viên có thể bước chân vào việc làm đồ án. Tuy nhiên, hiện nay sinh viên đang nhầm lẫn giữa việc làm thực tế và nghiên cứu học tập. Bắt đầu từ năm thứ 2, các bạn đã tham gia cộng tác và làm việc tại các công ty kiến trúc. Sang đến năm thứ 3, các bạn đã được làm những công trình thật và được nhận lương. Học được rất nhiều điều từ việc đi làm thực tế, đó là điều không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ rằng việc thực hành tại các công ty khác hoàn toàn với việc thực hành trong các xưởng đào tạo bởi tính định hướng của nó. Yếu tố kinh tế và lợi ích chi phối tất cả. Sẽ chẳng có mấy người giảng dạy, gợi mở vấn đề cho sinh viên mà sẽ chỉ là làm thế này hay làm giống thế này. Cũng có nhiều sinh viên chọn cách thực hành tại các xưởng hoặc công ty của thầy cô. Ở đây vừa được học, vừa được làm. Đây là một điều rất tốt nhưng tất nhiên không phải ai cũng có cơ hội. Thường thì chỉ dành cho một số sinh viên ham học hỏi và có thành tích nổi bật. Số lượng này không nhiều, còn lại các sinh viên khác thì vẫn không thể tự tìm ra cho mình được một cơ hội thực sự.

Qua giải thưởng Loa thành lần thứ 20 vừa rồi, dường như các nhà chuyên môn cũng đang hướng tới tính thực tiễn trong các đồ án của sinh viên. Mọi năm, các giải cao thường được trao cho những đồ án rất vĩ mô và không tưởng, nhưng năm vừa rồi lại là đồ án hết sức cụ thể, gần gũi và đơn giản. Có lẽ, đó cũng là định hướng mà sinh viên nên chú trọng khi thiết kế các đồ án của mình.
(http://mag.ashui.com)

Đọc thêm ...

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2009

Peter Zumthor architect - The Thermae of Stone

part 1:

part 2:

part 3:

Đọc thêm ...

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009

Cuộc sống giữa những công trình kiến trúc


Có cách nào đó để chúng ta tránh được giai đoạn "khủng hoảng" về không gian sống?

Thiếu hụt không gian

Nhiều đô thị tại các nước phát triển trên thế giới đã trải qua giai đoạn quá tải về các phương tiện giao thông, sự bùng nổ một cách bất hợp lý các công trình xây dựng và thiếu hụt không gian công cộng.

Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều thành phố khác ở VN đang đối mặt với nguy cơ này. Có cách nào đó để chúng ta tránh được giai đoạn "khủng hoảng" về không gian sống nói trên?

Có lẽ, ngay từ bây giờ, chúng ta sẽ phải chấm dứt việc ca tụng các thành quả xây dựng và các công trình kiến trúc cục bộ, để có cái nhìn thực chất hơn về kiến trúc - quy hoạch - và quản lý phát triển đô thị bền vững. Đối tượng cuối cùng đáng quan tâm là: cuộc sống đang diễn ra như thế nào giữa những công trình kiến trúc đó?

Tác giả Jan Gehl, nguyên là GS Thiết kế
Đô thị,
Trường Kiến Trúc, Học viện Mỹ Thuật Hoàng Gia Đan Mạch.
Ảnh: TC
GS. Jan Gehl trong cuốn sách nổi tiếng Cuộc sống giữa những công trình kiến trúc gợi mở: "Điều quan trọng nhất là cần thừa nhận rằng không phải cần tập hợp nhà cửa, mà cần tập hợp người và các sự kiện. Những khái niệm như diện tích sàn/tỉ lệ chỗ xây dựng và mật độ xây dựng không nói lên điều gì có tính quyết định về việc các hoạt động của con người đã được tập trung thỏa đáng hay chưa".

Ông chú trọng đặc biệt đến các cơ hội tận hưởng một cuộc sống gần gũi với thiên nhiên hơn, cơ hội giao tiếp của con người với nhau, và do đó, góp phần làm cho xã hội sinh động và gắn bó hơn.

Được xuất bản lần đầu vào năm 1971, Cuộc sống giữa những công trình kiến trúc luôn được sử dụng rộng rãi như một cuốn cẩm nang về quan hệ giữa không gian công cộng và đời sống xã hội trong thành phố.

Kiến trúc là đời sống

Đi bộ, đứng, hay ngồi có phải là những nội dung quan trọng mà các nhà kiến trúc cần đặc biệt lưu tâm tới không?

Câu trả lời là không và có.

Ở những nơi mà "kiến trúc chỉ là kiến trúc" và "kiến trúc bị chi phối bởi quyền lực" thì không. Nhưng ở những nơi mà "kiến trúc là đời sống" thì có.


Điều quan trọng nhất là không phải cần tập hợp nhà cửa, mà cần tập hợp người và các sự kiện

Các khảo sát chi tiết được minh hoạ trong cuốn sách cho thấy hiệu quả của việc thiết kế nhà cửa với độ cao vừa phải, bãi đỗ xe cách nhà một quãng, không gian trước nhà và các không gian chung thích hợp, hành lang đi bộ... tỉ lệ thuận với mức độ giao tiếp của cộng đồng, sự tham gia vào đời sống chung quanh, hoạt động của trẻ...

Các nghiên cứu chủ yếu được thực hiện ở châu Âu và Mỹ, cho thấy người dân ở đây có lối sống thân thiện với môi trường và ưa vận động, giao tiếp với những người xung quanh, khiến cho bức tranh đô thị ở đó trở nên ôn hòa và dường như rất đáng mơ ước.

Nhiều người VN, nếu được lựa chọn, hẳn sẽ lựa chọn việc đi bộ thảnh thơi qua các con phố, gật đầu chào những người quen hoặc làm quen. Đó là lối sống truyền thống. Nhưng bước vào đô thị hiện nay, họ dần dần bị tước đi các điều kiện để làm thế.

Đi bộ không phải là sở thích của người châu Âu hay các nước văn minh. Đó là sở thích và nhu cầu tự nhiên của con người ở mọi thành phố. Nhưng các nhà kiến trúc và quản lý đô thị đã tạo ra các điều kiện cảnh trở hay khuyến khích việc đi bộ.

Khi các nhà kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị quên đi việc bố trí những phần lề đường, hành lang, các ghế băng dọc đường, các điểm tựa để nghỉ chân, các khoảng không thích hợp cho việc quan sát và nhìn ngắm xung quanh... thì có nghĩa là họ đã triệt tiêu các điều kiện để người dân thích đi bộ.

Những người bị chiếm đường khi đi bộ hoặc đi xe đạp, đến lượt mình, rất có thể lại là nguyên nhân cản trở những người khác làm như vậy, khi chính họ cũng dựng xe lấn chiếm đường, hoặc mua bán ngay trên vỉa hè. Mọi người trở thành nguyên nhân và nạn nhân lẫn nhau của tình trạng chen lấn khổ sở trong thành phố và làm cho không gian sống tồi tệ hơn.

Và giới kiến trúc không hề vô can trong chuyện này, bởi họ là tác giả của vệc thiết kế các khu phố, căn nhà để tăng tính tiếp xúc của những người dân xung quanh đó, bố trí các ghế băng, điểm tựa, không gian để tạo điều kiện cho việc nán lại, đứng, ngồi, và diễn ra các hoạt động công cộng.

Liệu có cách nào đó để chúng ta tránh được giai đoạn "khủng hoảng" về không gian sống?

Các kết quả nghiên cứu cho thấy giao thông chậm trong đô thị có ý nghĩa thúc đẩy mối quan hệ giao tiếp giữa cộng đồng (vì có nhiều điều kiện để trao đổi mới nhau hơn). Và nếu có người còn băn khoăn về tính hiệu quả của những cây cầu dành cho khách bộ hành ở VN, thì đây có thể là một ý kiến đáng tham khảo:

"Đi bộ là một đòi hỏi tự nhiên nhưng có giới hạn về cự li mà con người có thể đi bộ được. Theo nhiều tài liệu khảo sát, cự li đi bộ có thể chấp nhận được cho đa số người trong hoàn cảnh hằng ngày bình thường là khoảng 400 đến 500m. [...]

Ở các đường phố buôn bán người ta có xu hướng đi theo đường ngắn nhất thay vì đường an toàn nhất. Chỉ khi nào ở những nơi giao thông bằng ô tô rất đông đúc, những nơi đường phố rất rộng, hoặc nơi mà những lối qua đường cho người đi bộ được bố trí rất tốt thì ở đó việc sử dụng lối qua đường cho người đi bộ mới có hiệu quả.

Sự kết hợp của giao thông bằng ô tô tấp nập, các rào chắn và sự qua đường khó khăn dẫn đến những đường vòng khó chịu và những hạn chế bất hợp lý cho giao thông đi bộ."

Jan Gehl đã chính xác khi viết: "Nếu vào một lúc nào đó một đội quy hoạch gia được giao nhiệm vụ làm suy giảm cuộc sống giữa các công trình kiến trúc thì họ khó có thể làm tốt hơn điều họ đã tình cờ làm được trong những khu ngoại ô trải rộng, cũng như trong rất nhiều kế hoạch tái phát triển theo chủ nghĩa công năng".

Một đám cưới bộ hành...
Duy trì các mối quan hệ hoặc bắt đầu những mối quan hệ mới
Một cuộc sống năng động và thân thiện hơn
Tác giả: Linh Thủy( tuanvietnam.net)

Đọc thêm ...

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2009

GigabIdea Real time Arch Viz Video Demo (Tìm hiểu về render "thời gian thực")

Do nhóm GigabIdea(nhóm của thầy Thiện trường ĐHKT tphcm) thực hiện, các bạn mở loa lên nghe thuyết minh nhé!
(blogkientruc.com)

Đọc thêm ...

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2009

Những kết quả khảo sát khá thú vị của 3000 tổ chức trong lĩnh vực kiến trúc và đồ họa.


Earlier this year we conducted our third worldwide industry survey to help determine the current state of the field and how the current economy has impacted businesses. Our last survey was conducted in 2006. The survey this year was taken by almost 3,000 respondents and provided some very insightful information about where things are headed.

Those of you who subscribe to 3D World magazine will have seen our preliminary analysis in issue #120 (September 2009). In that report the findings pointed to a field that was not as badly affected as many had thought. Since that article we have received additional information that we will present here along with our forecast for the next 2-3 years.

By all accounts our industry has undergone a radical change in the last 12 months that has seen a dramatic drop in sales, layoffs and a number of companies who have closed their doors. Certainly none of this is good, but based on the early results of our survey, only about 20% of our industry was hit the hardest. This is not to say the worldwide recession has not impacted every facet of the industry, however the vast majority are continuing to do business and in some cases were even growing their businesses.

Most companies were impacted by reduced sales in the October 2008 to May 2009 time frame, however there was a second wave who were not affected until early to mid summer 2009. This second wave was comprised mostly of larger boutique companies and architectural firms who had long term projects still in the pipeline or receivables that were still coming in from projects completed in late 2008 and early 2009. Once those dried up, they too were hit with forced cutbacks and a reduction in sales.

As this year's survey closed in June 2009, we only just started to gather data on this second wave before the survey closed. To help shed light on how this impacted our results we launched a smaller economic indicator survey that specifically examined gross sales, volume of work and volume of RFPs (Requests for Proposals). While early results were not very positive, August saw the first signs of recovery with most companies indicating growth in all three areas.

The remainder of this report will focus on a few select results from the over 100 questions posed in the two surveys. Although our survey data can be segmented by country and company type, unless otherwise noted the data presented here represents answers provided by respondents from all over the world and all types of companies ranging from Architectural firms to visualization companies and manufacturers. The vast majority of the data came from in-house visualization departments at architectural firms and visualization companies and freelancers.


Figure 1: How often are people working with visualization?


Compared to our last survey in 2006 there was a 12% increase in the number of people who started using visualization on a daily basis. This points to the growth our field saw in the last 3 years in the demand and requirement for visualization in many facets of the architectural field.


Figure 2 - What types of projects are being visualized?


The types of projects being visualized did not change a lot since 2006, but I thought it was interesting to showcase the range of fields where architectural visualization are being created. As expected commercial and residential accounted for the vast majority of work being created.


Figure 3 - Traditional vs. Digital


I created this graphic for a presentation I recently did for the ASAI (American Society of Architectural Illustrators,) as they are comprised of about 50% traditional illustrators. I thought I would include it here as it points quite heavily to the continued demand for these types of artists. From 2006 to 2009 we saw some of the largest growth our industry has seen. To see only a 5% decrease in the amount of traditional work during this boom is telling that its demand is not likely to decrease a lot in the coming years.


Figure 4 - Where are clients based?


Figure 4 is a very telling indicator of a widespread problem in our industry. In an increasingly global economy it becomes very important to diversify the location of your client base if you wish to survive recessions or the changing face of our industry. Fifty five percent of respondents indicated their clients were based in the same city or country. The companies that are doing the best right now are the ones who had the foresight to diversity both their client locations as well as the types of work they are doing for those clients. When you are too heavily invested in local clients, your are much more susceptible to very large swings in revenue when individual clients change their spending habits and/or when there is a local change in economy. Just as you would diversify your investment portfolios, so should you your client base.


Figure 5 - Architectural Still Image Variable Fees


Figures 5 and 6 show the average fees being charged around the world for still images and animations. To my knowledge this is the first time in our industry that this type of data has ever been collected. As you can see from the graph above the majority of companies charge $2,000 USD or less for a single image. Asian countries are often criticized for offering their services for below market averages, but to be fair South America, Eastern Europe and Asia are all on an even playing ground. For better or worse this shows how globalization has affected our industry as it has many others in the past.

Figure 6 - Architectural Animation Variable Fees


The results for average animation fees were very similar to the still images and showed that most companies charge less than $10,000 for an animation. Interestingly Australia came in higher than most. I have been anecdotally told this is likely due to the lack of companies that can deliver them and the lesser demand for animations in Australia.

Figure 7 - Interesting Software Usage Changes


While the survey this year and in 2006 allowed respondents to choose from a wide range of modeling and rendering software, I've extracted some of the more interesting changes in the last three years. There was a 15% increase in the number of 3ds Max users, which could be explained by the discontinuation of Autodesk VIZ, but at 83% usage, shows it's by far the most used software in the architectural visualization field. Revit usage grew by 10%, but is still a lot lower than I would expect based on the marketing that Autodesk pours into Revit each year. While I am pretty confident that Revit will eventually replace CAD as CAD replaced the drafting board, these numbers do seem to point to a slower than expected adoption rate. The rendering engine usage shows some of the most dramatic changes. When third party rendering engines first hit the market V-Ray, Brazil and Final Render all stood a reasonably good chance of becoming the market leader, but Chaos Group's early decision to offer a free version of their software helped cement them as the market leader. Brazil was gaining traction early on, but they decided to focus their energies on the entertainment market and all but stopped marketing to the architectural industry. They have since been acquired by Caustic graphics. As you can see from Figure 7 V-Ray jumped 24% in usage in our industry, while Brazil and Final Render each saw a 5% decrease. mental images also gained some ground with an 8% increase. I expect mental images to increase a lot more in the next 3 years as budgets for third party engines decrease coupled with the drastic improvement in the 3ds Max implementation of mental ray in terms of ease of use and rendering speed.
Các bạn có thể xem thêm thông tin tại đây
(CGarchitect.com)

Đọc thêm ...